Chào mừng quý vị đến với Thư viện sinh học 02
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
BÀI DỰ THI Tìm hiểu ''Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh; Bác Hồ vĩ đại; quê hương, đất nước đổi mới''

|
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM |
BÀI DỰ THI
Tìm hiểu ''Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh; Bác Hồ vĩ đại;
quê hương, đất nước đổi mới''
Họ và tên: Nguyễn Văn Lý
Ngày tháng năm sinh: 06/09/1976
Chức vụ công tác: TT TKHTN
Đang sinh hoạt tại chi bộ Trường TH&THCS TT Đồi Ngô
Câu 1. Vai trò của Nguyễn Ái Quốc trong việc chuẩn bị về chính trị tư tưởng và tổ chức để thành lập Đảng cộng sản Việt Nam?
- Cách đây gần 90 năm, mùa Xuân năm 1930, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam gắn liền với tên tuổi của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, Người sáng lập và rèn luyện Đảng ta.
Vào những năm cuối thế kỷ XIX, nước ta bị thực dân Pháp thống trị. Không cam chịu kiếp sống nô lệ, nhân dân ta đã liên tiếp đứng lên đánh Pháp, nhưng chưa giành được thắng lợi. Trong đêm trường nô lệ, ngày 5/6/1911, Nguyễn Tất Thành với tên gọi Văn Ba đã rời Cảng Sài Gòn quyết tâm ra đi tìm con đường cứu nước. Khi ấy, người thanh niên yêu nước chỉ nung nấu một quyết tâm cháy bỏng đó là: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”. Vì vậy người đã bôn ba qua nhiều nước và nghiên cứu những cuộc cách mạng đã giành thắng lợi tại những nước tư bản phát triển nhất. Người đến cả những nơi bần cùng, khốn khổ nhất ở châu Mỹ, châu Phi, tiếp xúc với nhiều lớp người, thuộc nhiều dân tộc khác nhau để hiểu đúng thực chất hơn về chủ nghĩa tư bản, về sự áp bức dân tộc của thực dân đế quốc. Người rút ra kết luận: Ở đâu cũng có người nghèo khổ như nước mình do sự áp bức, bóc lột vô nhân đạo của giai cấp thống trị. Chủ nghĩa đế quốc, thực dân là cội nguồn của mọi đau khổ cho giai cấp công nhân và nhân dân ở các nước chính quốc cũng như thuộc địa. Người khẳng định: Muốn thoát khỏi nô lệ và áp bức bóc lột thì nhân dân lao động toàn thế giới phải cùng đoàn kết lại để đấu tranh chống kẻ thù chung.
Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga thành công đã xua tan màn đêm đen tối, đưa ánh sáng đến với các dân tộc thuộc địa, Người đã quyết định quay trở lại nước Pháp, nơi có sự ảnh hưởng rất lớn của cuộc cách mạng này và cũng chính là điểm đến trong xác định ban đầu của Người.
Tại Đại hội đại biểu Đảng Xã hội Pháp lần thứ 18 (tháng 12/1920), Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản do Lê-nin sáng lập) và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp, trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và cũng là người Cộng sản đầu tiên của Việt Nam. Đó là một sự kiện lịch sử trọng đại, không những Nguyễn Ái Quốc từ chủ nghĩa yêu nước đến với lý luận cách mạng của thời đại là chủ nghĩa Mác - Lê-nin, mà còn đánh dấu bước chuyển quan trọng của con đường giải phóng dân tộc Việt Nam: muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản.
Từ đây, cùng với việc thực hiện nhiệm vụ đối với phong trào Cộng sản quốc tế, Nguyễn Ái Quốc xúc tiến truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vạch phương hướng chiến lược cách mạng Việt Nam và chuẩn bị điều kiện để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ năm 1921 - 1930, Nguyễn Ái Quốc ra sức truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, chuẩn bị về lý luận cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Người nhấn mạnh: cách mạng muốn thành công phải có đảng cách mạng chân chính lãnh đạo.
Năm 1927, Bộ Tuyên truyền của Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á - Đông xuất bản tác phẩm “Đường cách mệnh” (tập hợp các bài giảng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc ở lớp huấn luyện chính trị, đào tạo cán bộ của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên). Đó là sự chuẩn bị về đường lối chính trị tiến tới thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong thời gian này, Người cũng tập trung cho việc chuẩn bị về tổ chức và cán bộ. Người lập ra Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (năm 1925), tổ chức nhiều lớp đào tạo cán bộ tại Quảng Châu (Trung Quốc) và gửi cán bộ đi học tại Trường Đại học Phương Đông (ở Liên Xô trước đây) và Trường Quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc) nhằm đào tạo cán bộ cho cách mạng Việt Nam. Nhờ hoạt động không mệt mỏi của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và nhiều đồng chí cách mạng tiền bối mà những điều kiện thành lập Đảng ngày càng chín muồi.
Từ ngày 6/1 - 7/2/1930, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ động tổ chức và chủ trì Hội nghị hợp nhất Đảng tại Hương Cảng (Trung Quốc). Hội nghị đã quyết định hợp nhất các tổ chức Đảng: Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn thành Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 3/2/1930.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã đánh dấu một bước ngoặt vĩ đại trong cách mạng Việt Nam, chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối chính trị, về con đường cứu nước, cứu dân, thống nhất đất nước, thoát khỏi ách áp bức của thực dân, phong kiến, thoát khỏi bần cùng, lạc hậu. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Việc thành lập Đảng là một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam ta. Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng”.
Câu 2. Tại sao Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là một tất yếu Lịch sử? Ý nghĩa của việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam?
- Bối cảnh ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam
Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, chủ nghĩa tư bản chuyển từ tự do cạnh tranh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Các nước tư bản đế quốc vừa tăng cường bóc lột nhân dân lao động trong nước vừa xâm lược và áp bức nhân dân các dân tộc thuộc địa. Sự thống trị của chủ nghĩa đế quốc làm cho đời sống nhân dân lao động các nước trở nên cùng cực. Mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa thực dân ngày càng gay gắt. Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc diễn ra mạnh mẽ ở các nước thuộc địa.
Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, chủ nghĩa Mác - Lênin từ lý luận đã trở thành hiện thực, mở ra một thời đại mới - thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc. Cách mạng Tháng Mười Nga đã nêu tấm gương sáng trong việc giải phóng các dân tộc bị áp bức.
Sự ra đời của Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) vào tháng 3/1919 đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, trở thành ngọn đuốc lớn soi đường cho cách mạng Việt Nam sau này. Đối với Việt Nam, Quốc tế Cộng sản có vai trò quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ý nghĩa của sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
Sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam là một bước noặt vô cùng quan trọng của lịch sử cách mạng Việt Nam, quyết định sự phát triển của dân tộc,chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối và tổ chức lãnh đạo của phong trào yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX.Đó là kết quả sự vận động, phát triển và thống nhaatstrong phong trào cách mạng cả nước, sự chuẩn bị công phu của Lãnh tụ Nguyễn Ái quốc và sự đoàn kết nhất trí của các chiến sĩ tiên phong vì lợi ích của giai cấp, của dân tộc.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp, là sự khẳng định vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân Việt Nam và hệ tư tưởng Mác-Lênin đối với cách mạng Việt Nam. Sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sự kiện lịch sử có ý nghĩa trọng đại, là một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam, là một sự kiện đánh dấu một mốc son chói lọi trên con đường phát triển của dân tộc ta.
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam, là sự kiện gắn liền với tên tuổi của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh.
Sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và Cương lĩnh chính trị được xây dựng ngay từ khi được thành lập (trong đó xác định đúng đắn con đường cách mạng là giải phóng dân tộc theo phương hướng cách mạng vô sản) chính là cơ sở để Đảng Cộng sản Việt Nam - một Đảng vừa mới được thành lập nhưng đã giương cao được ngọn cờ lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam; giải quyết tốt nhất tình trạng khủng hoảng về đường lối cách mạng, về giai cấp lãnh đạo cách mạng diễn ra đầu thế kỷ XX, mở ra con đường và phương hướng phát triển mới cho đất nước và dân tộc Việt Nam. Chính đường lối này là cơ sở đảm bảo cho sự tập hợp lực lượng và sự đoàn kết, thống nhất của toàn dân tộc cùng chung tư tưởng và hành động để hoàn thành thắng lợi cuộc cách mang dân tộc dân chủ, từng bước xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đây cũng là điều kiện cơ bản quyết định phương hướng phát triển, con đường cách mạng Việt Nam trong suốt 89 năm qua.
3. Từ khi thành lập đến nay Đảng Cộng sản Việt Nam trải qua bao nhiêu kỳ Đại hội? Vào thời điểm nào? Kể tên các đ/c Tổng Bí thư (hoặc Bí thư thứ nhất của Đảng)?
Gần 90 năm kể từ khi thành lập đến nay (3/2/1930 - 3/2/2019), Đảng ta đã trải qua 12 kỳ Đại hội, mỗi kỳ Đại hội của Đảng đều gắn với những giai đoạn lịch sử, những thắng lợi, những thành tựu và những bài học kinh nghiệm của cách mạng Việt Nam. Nhân kỷ niệm 88 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Biên tập website xin điểm lại các kỳ Đại hội Đảng.
- Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ I:Diễn ra từ ngày 28 đến ngày 31 - 3 - 1935 tại phố Quan Công, Ma Cao (Trung Quốc). Tham dự có 13 đại biểu chính thức thay mặt cho 500 đảng viên trong nước và các Đảng bộ ở nước ngoài. Ban Chấp hành Trung ương gồm 9 ủy viên chính thức và 4 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Lê Hồng Phong được bầu làm Tổng Bí thư. Ban Chấp hành Trung ương nhất trí cử đồng chí Nguyễn Ái Quốc là đại biểu của Đảng bên cạnh Quốc tế Cộng sản.
- Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ II:Diễn ra từ ngày 11-19/2/1951 tại xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Dự Đại hội có 158 đại biểu chính thức, thay mặt cho hơn 73 vạn Đảng viên. Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Trung ương gồm 19 ủy viên chính thức và 10 ủy viên dự khuyết. Ban Chấp hành Trung ương đã bầu Bộ Chính trị có 7 ủy viên chính thức và 1 ủy viên dự khuyết. Đại hội bầu Chủ tịch Hồ Chí Minh là Chủ tịch Đảng, bầu đồng chí Trường Chinh làm.
- Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ III:Diễn ra từ ngày 5-10/9/1960 tại Hà Nội. Có 525 đại biểu chính thức và 51 đại biểu dự khuyết, thay mặt cho hơn 50 vạn đảng viên trong cả nước. Ban Chấp hành Trung ương đã bầu ra Bộ Chính trị gồm 11 ủy viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh được bầu lại làm Chủ tịch Đảng. Đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
- Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ IV:Diễn ra từ ngày 14-20/12/1976 tại Hà Nội. Dự Đại hội có 1008 đại biểu thay mặt cho hơn 1.5 triệu đảng viên trong cả nước. Đại hội quyết định đổi tên Đảng Lao động Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Đại hội còn bổ sung Điều lệ Đảng, thay chức danh Bí thư thứ nhất là Tổng Bí thư, bỏ chức danh Chủ tịch Đảng. Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 101 đồng chí chính thức, Bộ Chính trị gồm 14 đồng chí. Đồng chí Lê Duẩn tiếp tục làm Tổng Bí thư.
- Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ V:Diễn ra từ ngày 27-31/3/1982 tại Hà Nội. Dự Đại hội có 1033 đại biểu thay mặt cho hơn 1.7 triệu Đảng viên hoạt động trong 35.146 đảng bộ cơ sở. Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 116 ủy viên chính thức, 36 ủy viên dự khuyết. Bộ Chính trị gồm 13 ủy viên chính thức, 2 ủy viên dự khuyết, Ban bí thư gồm 10 đồng chí, đồng chí Lê Duẩn được bầu lại giữ chức vụ Tổng Bí thư. Đại hội V đã có những bước tìm tòi bước đi trên con đường quá độ lên CNXH, trước hết là về mặt kinh tế.
- Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ VI: Diễn ra từ ngày 15-18/12/1986 tại Hà Nội. Có 1129 Đảng viên tham dự, thay mặt cho gần 1.9 triệu Đảng viên cả nước. Ban Chấp hành Trung ương được bầu mới gồm 124 ủy viên chính thức và 49 ủy viên dự khuyết. Ban Chấp hành Trung ương bầu Bộ Chính trị gồm 13 ủy viên chính thức, 1 dự khuyết. Ban Bí thư gồm 13 đồng chí, đồng chí Nguyễn Văn Linh được bầu làm Tổng Bí thư.
- Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ VII: Diễn ra từ ngày 24-27/6/1991 tại Hà Nội. Dự đại hội có 1176 đại biểu thay mặt cho trên 2 triệu Đảng viên trong cả nước. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 146 ủy viên, bầu Bộ Chính trị gồm 13 ủy viên (Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 6 khóa VII tháng 11/1993 đã bầu bổ sung thêm 4 ủy viên Bộ Chính trị). Đồng chí Đỗ Mười được bầu làm Tổng Bí thư.
- Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ VIII: Đại hội diễn ra từ ngày 28/6-1/7/1996 tại Hà Nội. Dự Đại hội có 1.198 Đảng viên đại diện cho gần 2 triệu 130 nghìn Đảng viên trong cả nước. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 170 ủy viên. Đồng chí Đỗ Mười được bầu lại làm Tổng Bí thư (sau đó, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 4 khóa VIII - tháng 12/1997, đồng chí Lê Khả Phiêu đã được bầu làm Tổng Bí thư).
- Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ IX: Đại hội diễn ra từ ngày 19-22/4/2001 tại Hà Nội. Tham dự Đại hội có 1.168 đại biểu là những Đảng viên ưu tú được bầu từ các đại hội đảng bộ trực thuộc, đại diện cho hơn 2,4 triệu Đảng viên trong toàn Đảng. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương khóa IX gồm 150 ủy viên. Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương đã bầu Bộ Chính trị gồm 13 đồng chí, Ban Bí thư gồm 9 đồng chí. Đồng chí Nông Đức Mạnh được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
- Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ X: Đại hội diễn ra từ ngày 18-25/4/2006 tại Thủ đô Hà Nội. Dự Đại hội có 1.176 đại biểu thay mặt cho hơn 3,1 triệu đảng viên trong toàn Đảng. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 160 ủy viên chính thức và 21 ủy viên dự khuyết, với Bộ Chính trị gồm 14 thành viên và Ban Bí thư có 8 thành viên. Đồng chí Nông Đức Mạnh được bầu lại làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X.
- Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ XI: Đại hội lần thứ XI của Đảng chính thức diễn ra từ ngày 12 đến 19/01/2011 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Mỹ Đình với sự tham dự của 1.377 đại biểu, đại diện cho hơn 3,6 triệu đảng viên sinh hoạt ở gần 54.000 tổ chức cơ sở Đảng. Đồng chí Nguyễn Phú Trọng được bầu làm Tổng bí thư TW.
- Đạihội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII: Diễn ra từ 20/1 - 28/1/2016. Tham dự Đại hội Đảng XII có 1.510 đại biểu, đại diện cho hơn 4,5 triệu Đảng viên. Đồng chí Nguyễn Phú Trọng được bầu lại làm Tổng bí thư.
Câu 4. Vì sao phải tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, coi xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt? Hãy cho biết ý kiến của mình cần bổ sung thêm nội dung gì để góp phần vào công tác xây dựng Đảng ở Đảng bộ tỉnh Bắc Giang hiện nay?
Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định thành công trong sự nghiệp đổi mới của nước ta. Những thắng lợi của cách mạng Việt Nam trên các phương diện kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội… trong thời gian qua đã chứng minh điều đó. Để tiếp tục giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, cần: nâng cao năng lực trí tuệ, trình độ tư duy lý luận và tổng kết thực tiễn của Đảng; nâng cao hơn nữa những phẩm chất chính trị; tiếp tục đổi mới và chỉnh đốn Đảng. Giờ đây, chúng ta đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong điều kiện có nhiều thuận lợi và thời cơ lớn, nhưng cũng có không ít những khó khăn, phức tạp và cả những nguy cơ, thách thức gay gắt. Trong bối cảnh như vậy, việc giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng với tư cách một nhân tố chủ quan quan trọng nhằm nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước và phát huy quyền làm chủ của nhân dân là một nhiệm vụ đặc biệt cần thiết, một yêu cầu hàng đầu của sự nghiệp cách mạng. Đối với cách mạng Việt Nam, vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản là một tất yếu không thể đảo ngược. Điều này được thể hiện ở chỗlà, Đảng giữ vai trò quyết định trong việc lựa chọn con đường phát triển cho dân tộc ta, lựa chọn khả năng, xu hướng vận động cho nền kinh tế đất nước. Nhìn lại chặng đường phát triển của nước ta trong những thập niên đầu thế kỷ XX, chúng ta thấy trước năm 1930, ở Việt Nam đã có sự xuất hiện của một số tổ chức đảng và nhiều phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân đã bùng nổ. Song, do những hạn chế về thế giới quan và đường lối cứu nước, nên phong trào cách mạng do họ lãnh đạo cuối cùng đều thất bại và đi đến chỗ tan rã. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 03/02/1930 là một tất yếu lịch sử.
*Nhiệm vụ XD Đảng là “then chốt”.Trước yêu cầu ngày càng cao của công tác xây dựng Đảng, chuẩn bị tổ chức đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng, cấp ủy, tổ chức Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên cần thấm nhuần sâu sắc tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, đẩy mạnh học tập và làm theo gương Bác một cách thiết thực, hiệu quả, gắn với thực hiện trách nhiệm nêu gương đối với cán bộ, đảng viên. Đại hội XII của Đảng đã đặt nhiệm vụ xây dựng Đảng về đạo đức ngang với xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức. Hiện nay, nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng đang được thực hiện với những giải pháp đồng bộ theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), đã và đang đạt được kết quả quan trọng gắn liền với thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Trong thời gian qua, các nghị quyết của Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã được chỉ đạo thực hiện quyết liệt, ráo riết, đạt được những kết quả cụ thể. Đặc biệt, công tác phòng chống tham nhũng tiếp tục được duy trì, đẩy mạnh theo hướng có chiều sâu. Công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án, xử lý các vụ việc về tham nhũng, kinh tế được thực hiện đồng bộ, hiệu quả, tạo bước đột phá trong phát hiện, xử lý nghiêm sai phạm theo quy định của Đảng, Nhà nước. Từ đó tạo sức cảnh báo, răn đe mạnh mẽ, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và bộ máy nhà nước, khẳng định quyết tâm chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước ta là “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai”. Các nghị quyết của Đảng luôn nhấn mạnh nhiệm vụ “then chốt” của sự nghiệp cách mạng hiện nay chính là xây dựng Các ý Đảng.
* Ý kiến cá nhân tôi xin được bổ sung thêm một số nội dung cho công tác xây dựng Đảng bộ tỉnh thời gian tới(Đây cũng là liên hệ của câu 4; các đ/c lưu ý chỉnh sửa tránh trùng nhau)
- Một là, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của đảng viên và của nhân dân đối với Đảng.
- Hai là, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, phù hợp với yêu cầu thực tiễn ở các lĩnh vực quản lý từ địa phương đến tỉnh.
- Ba là, xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị; tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.
- Phải tạo được sự chuyển biến rõ rệt, khắc phục được những hạn chế, yếu kém trong công tác xây dựng Đảng, nâng cao chất lương sinh hoạt cảu các tổ chức Đảng từ cấp chi bộ, nhằm xây dựng Đảng bộ tỉnh ngày càng trong sạch, vững mạnh.
- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng, nghiêm túc kiểm điểm, xử lý kỷ luật đối với những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng, đạo đức lối sống, tham nhũng lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác.
Câu 5. Từ khi thành lập đến nay, Đảng bộ BG (tính cả giai đoạn sáp nhập tỉnh Gắc Giang và Bắc Ninh thành tỉnh Hà Bắc) đã tổ chức bao nhiêu kỳ Đại hội? kể tên các đ/c Bí thư Tỉnh ủy qua các thời kỳ?
1. Từ khi thành lập Đảng bộ BG đã qua 17 kỳ Đại hội
2. Các đồng chí được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy qua các thời kỳ
* Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lần thứ Nhất:
Thời gian: Từ ngày 18 đến ngày 24-6-1948.
Địa điểm tại Vân Cầu, Hồng Kiều, Yên Thế (nay thuộc Song Vân, Tân Yên).
Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ gồm 9 Uỷ viên chính thức và 2 Uỷ viên dự khuyết.
Tỉnh uỷ khoá I đã bầu đồng chí Lê Hoàng - Khu uỷ viên - làm Bí thư, đồng chí Vũ Đại và đồng chí Lê Văn Lương làm Uỷ viên Ban Thường vụ.
* Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lần thứ II:
Thời gian: Đầu tháng 7/1949.
Địa điểm tại Đình Cổ Trang (Bo Dầu), Đào Quán (nay thuộc xã Nghĩa Hưng), Lạng Giang. Gần 200 đại biểu thay mặt trên 7.000 đảng viên của Đảng bộ dự.
Đầu tháng 11/1949, các đoàn đại biểu nhóm họp lại bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh gồm 11 Uỷ viên chính thức, 2 Uỷ viên dự khuyết. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá II đã bầu đồng chí Bùi Việt làm Bí thư.
* Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lần thứ III:
Thời gian: Từ ngày 21 đến ngày 30-4-1951.
Địa điểm: Đồng Đảng, Tam Hiệp, Yên Thế;Có 179 đại biểu thay mặt cho gần một vạn đảng viên của Đảng bộ về dự.
Các đại biểu của Đại hội đã bầu Tỉnh uỷ gồm 13 Uỷ viên chính thức, 4 Uỷ viên dự khuyết.
Tỉnh uỷ khoá III đã bầu đồng chí Trần Trung làm Bí thư.
* Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lần thứ IV:
Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lần IV được tổ chức làm 2 vòng:
Vòng I: Từ ngày 20/6 đến ngày 02/7/1960.
Địa điểm tại Thị xã Bắc Giang.
Thay mặt trên 11.000 đảng viên của Đảng bộ, 221 đại biểu Đại hội thảo luận dự thảo Báo cáo chính trị và Điều lệ Đảng (sửa đổi) sẽ trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng và thông qua nhiệm vụ công tác 6 tháng cuối năm 1960 của Đảng bộ tỉnh.
Vòng II: Từ ngày 20/2 đến ngày 02/3/1961.
Địa điểm tại Thị xã Bắc Giang.
Đại hội bầu đồng chí Trần Trung tiếp tục làm Bí thư.
- Thời điểm sáp nhập tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh thành ( Hà Bắc)
* Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Bắc lần thứ I:
Thời gian: Từ ngày 16 đến ngày 25/10/1963.
Địa điểm tại Thị xã Bắc Giang.
Đại hội có 223 đại biểu thay mặt 23.281 đảng viên của Đảng bộ (Hà Bắc) dự.
Đại hội bầu Tỉnh uỷ (Hà Bắc khoá I) gồm 25 Uỷ viên chính thức, 2 Uỷ viên dự khuyết và Tỉnh uỷ đã bầu đồng chí Trần Trung tiếp tục làm Bí thư.
* Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Bắc lần II:
Thời gian: Từ ngày 25/5 đến ngày 01/6/1971.
Địa điểm: Tại Trường Đảng tỉnh. Có 312 đại biểu thay mặt 46.850 đảng viên của Đảng bộ tỉnh (Hà Bắc). Đại hội đã bầu Tỉnh uỷ với 26 Uỷ viên chính thức, 1 Uỷ viên dự khuyết và Tỉnh uỷ đã bầu đồng chí Lê Quang Tuấn làm Bí thư.
* Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Bắc lần thứ III:
Thời gian: Từ ngày 25/5 đến 01/6/1976.
Địa điểm: tại Trường Đảng tỉnh. Có 365 đại biểu thay mặt 51.000 đảng viên của Đảng bộ tỉnh (Hà Bắc) dự; Đại hội bầu đồng chí Vũ Thơ làm Bí thư.
* Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Bắc lần thứ IV:
Thời gian: Từ ngày 10 đến ngày 16/6/1977.
Địa điểm: tại Trường Đảng tỉnh.
Đại hội bầu Tỉnh uỷ khoá mới gồm 30 Uỷ viên chính thức, 1 Uỷ viên dự khuyết. Trong phiên họp lần thứ nhất, Tỉnh uỷ đã bầu đồng chí Vũ Thơ tiếp tục làm Bí thư.
* Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Bắc lần thứ V:
Thời gian: Từ ngày 30/10 đến ngày 03/11/1979.
Địa điểm: Hội trường của Tỉnh uỷ tại thị xã Bắc Giang.
Tỉnh uỷ bầu đồng chí Vũ Thơ tiếp tục làm Bí thư.
* Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Bắc lần thứ VI:
Thời gian: Từ ngày 24 đến ngày 29/01/1983.
Đại hội bầu Tỉnh uỷ gồm 39 Uỷ viên chính thức, 2 Uỷ viên dự khuyết và Tỉnh uỷ bầu đồng chí Nguyễn Thanh Quất làm Bí thư.
* Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Bắc lần thứ VII:
Thời gian: Từ ngày 10 đến ngày 15-10-1986.
Địa điểm: Hội trường tỉnh tại thị xã Bắc Giang.
Tỉnh uỷ khoá mới đã bầu đồng chí Nguyễn Thanh Quất làm Bí thư.
* Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Bắc lần thứ VIII:
Đại hội Đảng bộ tỉnh lần này với 320 đại biểu tham dự và được tổ chức làm 2 vòng; tại hội trường của tỉnh ở thị xã Bắc Giang.
Vòng 1: Từ ngày 21 đến ngày 24/4/1991.
Nội dung là thảo luận đóng góp ý kiến vào dự thảo Văn kiện của Ban Chấp hành Trung ương Đảng sẽ trình Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII và bầu đoàn đại biểu đi dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII.
Vòng 2: Từ ngày 11 đến ngày 14/11/1991.
Đại hội bầu Tỉnh uỷ gồm 45 Uỷ viên. Đồng chí Đỗ Bình Dương, Uỷ viên Trung ương Đảng, được Tỉnh uỷ bầu làm Bí thư.
* Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Bắc lần thứ IX:
Thời gian: Từ ngày 23 đến ngày 26/4/1996.
Địa điểm: Hội trường của tỉnh ở thị xã Bắc Giang.
Có 300 đại biểu dự. Đại hội bầu Tỉnh uỷ gồm 47 Uỷ viên; bầu đồng chí Đỗ Bình Dương làm Bí thư.
* Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lần thứ XIV:
Thời gian: Từ ngày 05 đến 07/11/1997.
Địa điểm: Tại khu hội nghị tỉnh ở thị xã Bắc Giang.
Tỉnh uỷ khoá XIV đã bầu đồng chí Đỗ Bình Dương, Uỷ viên Trung ương Đảng làm Bí thư.
* Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lần thứ XV:
Thời gian: Từ 20 đến 22/12/2000.
Địa điểm: Tại Khu hội nghị tỉnh ở thị xã Bắc Giang.
Tỉnh uỷ khoá XV đã bầu đồng chí Nguyễn Quốc Cường làm Bí thư.
* Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lần thứ XVI:
Thời gian: Từ ngày 01/12 đến ngày 04/12/2005.
Địa điểm: Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lần thứ XVI (nhiệm kỳ 2006 - 2010) được tổ chức tại Thành phố Bắc Giang đã thành công tốt đẹp.
Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá 16 gồm 49 đồng. BCH Đảng bộ tỉnh họp ngày 03/8/2010, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XVI đã họp phiên đột xuất bầu đồng chí Nông Quốc Tuấn làm Bí thư Tỉnh uỷ thay đồng chí Đào Xuân Cần.
* Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lần thứ XVII:
Đại hội đại biểu tỉnh Bắc Giang lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2010-2015 diễn ra từ ngày 15 đến ngày 18/10/2010 tại Hội trường lớn, Nhà khách UBND tỉnh Bắc Giang với sự tham gia của 342 đại biểu dự.
Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá 17 gồm 55 đồng chí; BCH Đảng bộ tỉnh (khoá XVII) đã bầu đồng chí Nông Quốc Tuấn làm Bí thư;
Từ tháng 6/2012 đến 2/2015 Tỉnh ủy bầu Đ/c Trần Sỹ Thanh làm Bí thư tỉnh ủy Bắc Giang.
Từ tháng 2/2015 Tỉnh ủy bầu Đ/c Bùi Văn Hải làm Bí thư đến nay.
Câu 6. Từ 2006 đến nay Đảng ta đã ban hành 03 chỉ thị về học tập và làm theo tấm gương Bác? Hãy kể tên những chỉ thị ấy? Nêu khái quát nội dung chỉ thị mà Đảng và nhân dân ta đang thực hiện trong giai đoạn hiện nay?
- Từ 2006 đến nay Đảng ta đã ban hành 03 chỉ thị về học tập và làm theo tấm gương Bác.
CHỈ THỊ số: 06-CT/TW ngày 07 tháng 11 năm 2006; Về tổ chức cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
Tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh là sự kết tinh những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta và tinh hoa văn hoá của nhân loại, là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và nhân dân ta; là tấm gương sáng để mọi người Việt Nam học tập và noi theo.
Trong hơn 3 năm qua, thực hiện Chỉ thị 23-CT/TW, ngày 27-3-2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khoá IX, toàn Đảng, toàn dân ta đã tổ chức đợt học tập tư tưởng Hồ Chí Minh để quán triệt, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng của Người trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đợt học tập đã thu được nhiều kết quả tốt.
Trước yêu cầu tăng cường công tác tư tưởng trong tình hình mới, Hội nghị lần thứ 12 Ban Chấp hành Trung ương khoá IX đã quyết định triển khai chỉ đạo điểm cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, đúc rút kinh nghiệm để tiến hành cuộc vận động lớn trong toàn Đảng về vấn đề này sau Đại hội X của Đảng. Đây là một chủ trương lớn, vừa mang tính cấp bách trong bối cảnh tình hình hiện nay, vừa có ý nghĩa lâu dài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Chỉ thị 03-CT/TW ngày 14-5-2011 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và triển khai quán triệt Chỉ thị 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Nội dung thực hiện; Tiếp tục tổ chức học tập tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, bao gồm cả việc học tập và làm theo tác phong, phong cách của Bác, thể hiện cụ thể trong công việc thường ngày, trong quan hệ với nhân dân, đồng chí, đồng nghiệp... Đặc biệt nhấn mạnh việc làm theo qua những hành vi thiết thực, cụ thể.
- Tiếp tục xây dựng và tổ chức thực hiện những chuẩn mực đạo đức theo tư tưởng và tấm gương Hồ Chí Minh, phù hợp với đặc điểm hoạt động của từng ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị trong giai đoạn hiện nay.
Thực hiện Chỉ thị 05 gắn với thực hiện Nghị quyết TW 4, khóa XII: Nộị dung CT nhấn mạnh tầm quan trọng, vị trí, vai trò của việc học Bác đối với công tác xây dựng Đảng một cách toàn diện, cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức.
Với việc xác định, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là một nội dung quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Bộ Chính trị cũng yêu cầu, thực hiện Chỉ thị 05 gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII về ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu.
Câu 7. Từ quá trình học tập và công tác của bản thân, hãy đề xuất những “ý tưởng mới” về lĩnh vực mình quan tâm để góp phần xây dựng tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh ngang tầm nhiệm vụ.
* Với cương vị công tác hiện nay, bản thân mạnh dạn đưa ra một số giải pháp sau:
- Trước hết phải đề cao tinh thần trách nhiệm, ý thức tự giác, gương mẫu đi đầu trong thực hiện chủ trương, đường lối, nghị quyết của Ðảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước.
- Tạo được sự đoàn kết, thống nhất cao trong tập thể và nâng cao nhận thức trong cán bộ, đảng viên, nhân dân về yêu cầu cấp thiết phải tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; thấy rõ sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; thường xuyên nâng cao chất lượng sinh hoạt của tổ chức Đảng và đảng viên.
- Trong sinh hoạt Đảng phải tích cực thẳng thắn đấu tranh tự phê và phê bình, tránh tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm “dĩ hòa vi quý”, thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh.
- Về cá nhân bản thân không ngừng tu dưỡng bản lĩnh chính trị, tích cực học tập nâng cao trình độ kiến thức, chuyên môn nghiệp vụ, vận dung trong công tác, đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ được giao.
- Tích cực trong công tác tham mưu đề xuất, đồng thời chủ động xây dựng kế hoạch, mục tiêu phấn đấu cho bản thân góp phần vào công tác dây dựng chi bộ, Đảng bộ trong sạch vững mạnh.
Nguyễn Hải Lý @ 22:38 08/03/2020
Số lượt xem: 204
- 2019 nCoV - Báo động Trung Quốc trải qua ngày chết chóc nhất trong dịch virus corona (31/01/20)
- Lớp học "khổng lồ" của thầy giáo tí hon (20/12/19)
- Bài thu hoạch hội nghị Trung ương 6 khóa XII (14/01/19)
- Bài thu hoạch Nghị quyết Trung Ương 8 khóa XII của Đảng viên (23/11/18)
- Người ngoài hành tinh vừa ghé thăm Trái đất ở Ireland? (18/11/18)

Các ý kiến mới nhất